Văn hóa

Chàm đuống

31/12/2009 01:28 SA

Xem cỡ chữ Email Print

PhuthoPortal - Chàm đuống là đâm cối, giã cối. Người Mường gọi một loại cối giã gạo là đuống. Loại cối nước ở ven bờ suối suốt đêm ngày mỗi cối chỉ cho ra vài ba cân gạo, không đủ ăn cho nhà đông người. Hơn nữa khi tết nhất, cưới treo, ma chay... cần nhiều gạo ăn người ta phải giã gạo bằng đuống. Đuống được đục khoét từ thân gỗ tròn thành hình máng dài một hai mét cho vài ba người, thậm chí mươi mười hai người cùng giã một lúc.


Người Việt ta vốn trọng sinh thực khí, mà sinh thực khí là cốt lõi, hạt nhân của tín ngưỡng phồn thực, một tín ngưỡng cầu cho mùa màng, con người, con của được phát triển sinh năm đẻ mười. Chày và cối là tượng trưng cho vật giống nam và nữ. Chày giã vào cối là mô phỏng cho hành vi tính giao. Với ý nghĩa ấy mà từ chức năng thực dụng giã thóc thành gạo, chàm đuống còn đi vào tín ngưỡng phồn thực của người Việt. Rồi từ đó đuống không chỉ là chày cối nữa mà nó trở thành nhạc khí đi sâu vào diễn xướng dân gian thành nhiều bài đuống với nhiều giai điệu, tiết tấu sinh động khác nhau. Chàm đuống vốn là di sản văn hóa của người Việt cổ trên quê hương Đất Tổ Vua Hùng. Hình ảnh chàm đuống đã được khắc trên mặt trống đồng Đông Sơn. Theo cụ Đào Duy Anh thì người Lạc Việt, nước Văn Lang, thời Hùng Vương mặc áo bằng vỏ cây, bện cỏ làm chiếu, gác cây làm nhà sàn, làm cơm bằng ống tre, nứa, dùng gừng thay muối, dùng bột cây đao thay cơm, khi có người chết thì đem cối, chày không ra giã. Hay sách "Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập" của Trương Hữu Quỳnh cũng viết: "...đời sống tinh thần trong xã hội Hùng Vương như tục ăn đất, uống nước bằng mũi, tục giã cối (để làm hiệu lệnh, truyền tin)".

Như vậy chàm đuống không chỉ có từ lâu mà còn được người Việt cổ đưa vào lễ thức tín ngưỡng tâm linh từ buổi sơ khai dựng nước. Chàm đuống là di sản văn hóa Hùng Vương. Vùng Mường Phú Thọ nằm trong vùng trung tâm Phong Châu của nhà nước Văn Lang nên tục chàm đuống đến nay vẫn được đồng bào bảo tồn tốt.

Ngoài người Mường Phú Thọ thì người Mường Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa cũng có tục này gọi là múa đâm đuống, đánh đuống, quéng đuống. Người Thái một số vùng gọi là khua đuống, quéng loóng, keng loóng hoặc múa giã cốm, gõ mảng, người Cao Lan ở Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Đoan Hùng (Phú Thọ) gọi là pỏng loóng, kháp mấu. Tuy có tục chàm đuống nhưng các nơi khác chỉ có trong lễ gia cốm, mừng cơm mới hoặc có hòa tấu trong hội chính của làng.

Riêng ở vùng Mường Phú Thọ thì tục này phát triển rộng rãi đa dạng hơn, đi sâu vào mọi sinh hoạt văn hóa, dân gian của đồng bào.

Từ đồ dùng sản xuất sinh hoạt đi sâu vào tín ngưỡng dân gian nên đuống và chàm đuống nảy sinh những thể thức, tục hèm kiêng kỵ riêng. Trước tết người ta phải úp đuống trên giá đỡ đóng bằng tre bương. Ba ngày tết kiêng giã đuống, tránh kinh động đến thần đất, thần rừng. Tết còn phải giã đuống lấy gạo ăn là điều xấu nghèo đói cho năm mới. Nửa đêm mồng ba tết bà chủ nhà hoặc dâu cả khẽ đánh thức con gái con dâu trong nhà dậy. Kiêng không được gọi và lật chăn chiếu khi đánh thức. Khi ấy đuống đã được lật ngửa chứa một số cum lúa. Bà chủ hoặc dâu cả cầm chày cái đứng ở đầu đuống. Những người khác cầm chày con đứng hai bên thành đuống. Khi tiếng trống cúng động thổ, mở cửa rừng ở nhà lang hoặc miếu xóm vừa dứt thì các gia đình cùng chàm đuống. Nhà nào cất tiếng đuống đầu tiên được làng thưởng, nhưng nếu ai cất tiếng đuống khi chưa dứt tiếng trống của làng thì bị làng phạt. Nửa số gạo giã được phải cho gà vịt ăn lúc sáng sớm lấy may. Số còn lại đem đồ lên để cúng thần rừng.

Khi có người chết thì người dâu cả dùng chày giã vào lòng đuống không. Dân bản nghe tiếng đuống ấy sẽ chạy ngay đến nhà có đám ma. Khi làm lễ phát khốc người dâu cả lại làm cái khi giã đuống, một nửa số gạo giã được đúc vào túi vải gối đầu cho người chết, một nửa còn lại nấu hoặc đồ cơm cúng đặt trên chốc quan tài.

Người Mường ở sâu vùng trong ít bị Hán hóa, ảnh hưởng phong kiến trọng nam khinh nữ chưa nặng nề như vùng ngoài nên người đàn bà, bà chủ hoặc dâu trưởng mới đứng chủ lễ ở nhiều nghi lễ tín ngưỡng vùng Mường. Trong đám cưới cũng dâu trưởng hoặc bà chủ được chàm đuống khi đón dâu mới về đến nhà. Lễ xuống đồng cũng do bà chủ nhà xuống cấy những khóm mạ đầu tiên... Đó là tàn dư rớt lại từ xã hội thị tộc mẫu quyền.

Trong lễ "treo hái" đồng bào Mường có tục "lấy vía lúa" trước hôm gặt. Bà chủ hay dâu trưởng lấy 9 bông lúa nếp, 9 bông lúa tẻ về treo lên gác bếp, khi ấy có chàm đuống để đón hồn lúa. Nói chung văn nghệ được bắt nguồn từ lao động sản xuất và tín ngưỡng. Khi cúng, thầy cúng phải nói với thần thánh, tổ tiên. Lúc đầu chỉ là nói văn cúng. Để văn cúng dễ lọt tai quỷ thần, thầy cúng phải nói ngân nga trầm bổng từ đấy hát nói ra đời. Để giữ nhịp điệu khi hát cúng, thầy cúng lại phải dùng mõ, chiêng, trống hoặc phách để vừa cầm nhịp, vừa hòa thanh cho bài cúng hay hơn. Thế là ban đầu thanh nhạc được hòa cùng khí nhạc để rồi phát triển lên cao, rộng ra trong đời sống sinh hoạt ca nhạc của dân gian rồi bác học... cũng như vậy, tiếng đuống khi chỉ là tiếng chày giã gạo thì nhịp điệu đơn giản, tiếng chày một điệu, một nhịp khô khan nhưng khi nó đi vào lễ thiêng nông nghiệp, vào những sinh hoạt tín ngưỡng dân gian khác và nhất là khi đã trở thành nhạc khí thì nó đã được các nghệ nhân khai thác triệt để phần thanh âm, giai điệu, tiết tấu tạo ra nhiều bản nhạc khác nhau. Khi chàm đuống trong đám ma, người ta giã chày gấp gáp rồn rập nhưng trong đám hội thì bài đuống lại tưng bừng náo nhiệt. Vì tiếng chày giã vào lòng đuống có âm thanh khác với chày đâm vào thành đuống bên. Khi người chơi giật đầu chày về thành đuống phía bên mình thì có âm thanh khác. Hai người đứng đối diện khi đập nửa chày trên vào nhau lại tạo ra âm thanh khác khi họ đập hai nửa chày dưới vào nhau.

Người cái đứng đầu đuống giã giữ nhịp cho các chày con giã theo. Thí dụ khi người cái đánh theo nhịp 3 đâm một lắc, thì các chày con phải đánh theo nhịp một đâm một lắc (đâm là chày đâm vào lòng đuống, lắc là đâm chày vào thành đuống bên. Còn giật là quyệt đầu chày vào thành đuống mé bên mình).

Bài đuống trên được gọi là bài hoặc ĐIỆU I. Điệu đuống này thường được dùng trong lễ mừng cơm mới ở nhà thổ lang, trưởng bản và ở các nhà cái (nhà con trưởng)

ĐIỆU II đánh trong lễ khai xuân, khao cử, mừng nhà mới. Chày cái đánh theo nhịp 3 đâm một lắc nhưng các chày con đánh theo nhịp 2 đâm, 1 lắc.

ĐIỆU III điệu hay nhất thường được đánh trong đám cưới và hội làng. Ở điệu này chày cái cũng đánh 3 đâm một lắc nhưng các chày con đánh theo nhịp một đâm, một lắc.

ĐIỆU IV chỉ đánh trong đám ma, khi cúng phát khốc và tiễn ma đi. Chày cái đánh theo nhịp 2 đâm một lắc. Các chày con theo nhịp 1 đâm một lắc. Cái đuống khi đã trở thành nhạc khí và đi vào tín ngưỡng dân gian thì nó trở thành vật thiêng. Là vật thiêng nên nó phải được kê ở "thướng" (nền nhà) gian đầu là gian gốc, gian có bàn thờ bên trên. Gian ấy chỉ có ông chủ nhà được nằm. Khách khứa, con cháu, đàn bà con gái nằm ở các gian bên và cuối nhà.

Hơn nữa "thướng" các gian cuối vừa chứa củi đuốc, nông cụ, nhốt trâu bò lợn gà là nơi uế tạp, không thể kê đuống ở đó.

Ngày nay chức năng giã gạo bằng đuống đã giảm hẳn nhưng tục chàm đuống thì vẫn được đồng bào thực hiện trong các dịp lễ tết, hội hè.

Hội Đền Hùng hàng năm đều không thiếu tiết mục chàm đuống cùng với chàm thau (đánh trống đồng cồng chiêng) của đồng bào Mường Đất Tổ.

Nguyễn Hữu Nhàn

ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT( 0)