Danh lam thắng cảnh

Xuân Sơn, đất lạ nên quen

13/03/2007 00:00 SA

Xem cỡ chữ Email Print

Nghe tiếng tăm Trần Đăng Lâu từ lâu nhưng mãi đến năm 2000, khi Xuân Sơn chuẩn bị được nâng cấp từ Khu bảo tồn thiên nhiên lên Vườn quốc gia, tôi mới có dịp trò chuyện với anh.


Đã được đọc nhiều bút ký của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, của Vương Hồng, nhưng những lời kể của chúa đất Xuân Sơn Trần Đăng Lâu vẫn hấp dẫn tôi một cách lạ kỳ. Và cũng kỳ lạ, một vùng rừng chỉ cách Việt Trì 70 km mà hơn nửa đời làm báo tôi chưa hề đặt chân tới! Mà cũng không chỉ riêng tôi, nhiều anh em làm báo cho đến trước ngày có đường mở vào đất núi vẫn chưa hề biết tới Xuân Sơn. Bởi vậy, những điều Trần Đăng Lâu kể về Xuân Sơn cứ khiến tôi liên tưởng nơi này như một sứ sở xa xôi nào đó chứ không phải là miền rừng chỉ cách Việt Trì khoảng hơn 2 giờ đi xe máy! 

Tôi không thể hình dung lối vào Xuân Sơn trước năm 2000 như thế nào, bởi từ Xuân Đài vào đây khi ấy chỉ có thể đi bộ. Giờ thì đường lớn đã mở, tuy chưa hoàn thành nhưng xe du lịch 4 chỗ vẫn có thể vượt ngon lành. Sở dĩ đường vào Xuân Sơn còn gập ghềnh như vậy là bởi đồng vốn vẫn cấp cầm chừng, sự giải ngân vẫn chậm trễ như tình trạng chung của các công trình xây dựng cơ bản vốn ngân sách hiện nay. Từ khi có đường, tôi đã vào Xuân Sơn không chỉ một lần, nhưng mỗi lần cũng chỉ đủ thời gian để khám phá một hang Lun, hang Lạng, hay tới một bản Cỏi, bản Dù, bản Lấp, bản Lùng Mằng... mà thôi. Tôi vẫn ao ước được một lần cùng chúa đất Trần Đăng Lâu chinh phục đỉnh núi Ten cao 1.244m như một nhà thám hiểm thực thụ. Từ khái niệm rừng quốc gia đến khái niệm vườn quốc gia, tôi nghĩ đó là bước chuyển về nhận thức đối với việc bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên trong một giới hạn cụ thể. Nhưng ngay cả những vườn quốc gia có tên tuổi như Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phương, hay Bạch Mã, Cát Tiên... thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, ta vẫn nghe đây đó có chuyện chặt cây, phá rừng. Vậy thì căn nguyên của tình trạng này là do đâu? Khi phân tích, anh Trần Đăng Lâu nói như đinh đóng cột rằng: Đó là do cả nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân xã hội, trong đó nguyên nhân kinh tế là cơ bản. Thông thường rừng vườn quốc gia là rừng nguyên sinh; dân cư trong khu vực vườn quốc gia và vùng đệm vốn từ lâu đời “sống nhờ rừng, thác gửi rừng” nên rừng là cuộc sống của họ. Truyền đời đồng bào vẫn lấy việc khai thác lâm sản, đốt nương, trỉa lúa làm kế sinh nhai. Công việc này của bà con luôn ngược 180 độ với mục đích giữ rừng của Vườn quốc gia nên đòi hỏi phải có cách giải quyết thấu đáo. Sự hơn của Vườn quốc gia Xuân Sơn so với một số vườn quốc gia khác là cách giải quyết mâu thuẫn này. Giám đốc Trần Đăng Lâu cho hay: Vườn quốc gia Xuân Sơn phải nghĩ cách để đồng bào dân tộc không phải khai thác lâm sản trái phép, không đốt nương làm rẫy, không du canh, không thả rông gia súc... mà vẫn có thể “xóa đói giảm nghèo” và làm giàu từ nghề trồng rừng, giữ rừng. Nói như các nhà chuyên môn là phải tìm cách phát triển lâm sản ngoài gỗ. Đó là lý do để các dự án “khoán bảo vệ rừng nguyên sinh”, trồng các loại cây vừa có giá trị phòng hộ, vừa có giá trị kinh tế như chè shan, dổi, vầu đắng, rau sắng... đã được triển khai có kết quả bước đầu rất khả quan trong mấy năm qua. Chẳng hạn dự án trồng chè shan đã có 450 hộ tham gia trồng được 600 ha. Tôi đã đứng hồi lâu ngắm khu vườn chè trồng 2 năm tuổi của đôi vợ chồng cùng tên Lâm họ Bàn, và cũng đã đến thăm ngôi nhà sàn của họ ở cách trạm kiểm lâm không xa. Chị Bàn Thị Lâm kể rằng, nhờ khoán bảo vệ rừng và trồng chè shan mà anh chị nuôi được 3 con đi học, 2 đứa dưới thị trấn phố huyện, 1 đứa ở Việt Trì! Hẳn là ở Xuân Sơn hiện giờ, số gia đình may mắn như vợ chồng anh chị Lâm chưa nhiều, nhưng phần đông họ đã được Vườn quốc gia mở lối làm ăn để quên đi cái cách thức kiếm sống mà cha ông họ đã làm- đó là chỉ biết bóc lột rừng hơn là giữ rừng. Cùng với hướng dẫn và thu hút nhân dân sở tại tham gia trồng rừng, Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn còn triển khai các dự án về phát triển giao thông, thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng... để phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương.  

Với những giá trị về môi trường, sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, giá trị nhân văn... cho đến nay, Vườn quốc gia Xuân Sơn đã hé lộ những tiềm năng to lớn để phát triển du lịch. Người con của quê hương xứ Đoài đang dốc lòng làm giàu một vùng rừng trên quê hương đất Tổ, Trần Đăng Lâu hay mượn ý thơ của Tản Đà: Muốn ăn rau sắng chùa Hương để mà nói rằng: Muốn ăn rau sắng Xuân Sơn. Bởi rừng Xuân Sơn theo điều tra ban đầu có không dưới 12.000 cây rau sắng từ 10 tuổi trở lên, và nguồn đặc sản quý hiếm này trở nên dồi dào và gần kề, bớt hẳn mối lo “tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa” như ở chùa Hương! Không chỉ Xuân Sơn, không chỉ Thanh Sơn, mà trong tương lai cả vùng Phú Thọ, Ba Vì, rau sắng sẽ được trồng phổ biến, vì đây là niềm ấp ủ của người kỹ sư lâm sinh lúc nào cũng tâm huyết với rừng. Với riêng tôi, Xuân Sơn xa xôi, lạ lẫm năm nào, giờ miền rừng ấy đã trở nên thân thuộc.

                       (Theo Báo Phú Thọ)

ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT( 0)